Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Chuyên mục 'Big Deal' với tựa đề 'Regional bully' (Kẻ du côn trong khu vực)


Philippines là thành viên khối ASEAN như Việt nam vậy mà khi có những vấn đề như thế này hầu như không nước nào trong ASEAN có ý kiến, thật đáng buồn vì sự không gắn kết và thiếu trách nhiệm mà lẽ ra trong cùng một khối cần phải có.

Trung quốc hiểu rất rõ điều này nên họ kiên quyết đàm phán đơn phương về biển đông với các nước trong khu vực tranh chấp như Việt nam, Philippines, Malaysia.

Philippines công khai chỉ trích Trung Quốc

Tượng đài Quyền lực Nhân dân ở Manila
Báo Philippines vừa đăng bài bình luận nói Trung Quốc đang có xu hướng bắt nạt cả khu vực, sau sự kiện tàu Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò của nước này tại Biển Đông.
Tờ Manila Times ấn bản điện tử hôm thứ Hai 07/03 đăng bài của tác giả Dan Marino trong chuyên mục 'Big Deal' ('Chuyện lớn') với tựa đề 'Kẻ du côn trong khu vực' ('Regional bully') nói về cách hành xử của chính quyền Trung Quốc.
Bài bình luận của Manila Times nói phía Trung Quốc dường như muốn "phủi nhẹ" sự kiện này đi, như "trâu nước đuổi ruồi muỗi".
Dan Marino cho rằng, lý do gây hấn của Trung Quốc không có gì ngoài quyền lợi kinh tế, vì khu vực Bãi Cỏ rong được cho là có chứa trữ lượng khí gas và dầu lửa khổng lồ (440 triệu thùng dầu).
Không ngang sức
Quân đội Philippines thăm Trường Sa
Không quân Philippines bị nói là 'quá lạc hậu'
"Trong khi quân đội Philippines đang tụt hậu so với các nước trong khu vực, phần lớn vì các tướng tá tham nhũng, thì quân đội Trung Quốc đang được trang bị súng to pháo lớn."
Bài viết nhắc tới việc Bắc Kinh tăng ngân sách quốc phòng hai chữ số trong năm nay, và nói điều gây quan ngại nhất là thái độ của Trung Quốc.
"Bắc Kinh không ngại có xung đột vũ trang trong việc khẳng định "chủ quyền lịch sử" đối với quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Nam Sa. Năm 1988, cũng quanh quần đảo này, Trung Quốc đã hải chiến với Việt Nam mà kết quả là hơn 70 thủy thủ Việt Nam thiệt mạng."
"Với lực lượng quân sự mạnh mẽ hơn bao giờ hết, Bắc Kinh có thể nhăm nhe quay lại vai trò lịch sử là kẻ du côn trong khu vực."

Yêu cầu đối ngoại

"Sự việc này một lần nữa cho thấy, Trung Quốc thật là đáng sợ, chứ không phải là quốc gia hiền lành như các nhà ngoại giao nước này rêu giảng."
Sự kiện hôm 02/03 không phải lần đầu và cũng sẽ không phải lần cuối Trung Quốc phô diễn sức mạnh trước các quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn ở Đông Nam Á.
Xã luận trên Manila Times
Báo này nói thanh niên Philippines có thể khó hình dung độ hiếu chiến của Trung Quốc, nhưng những gì mà nước này cho thế giới thấy trong những năm 1950, trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên và gần nhất là trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam đã chứng tỏ điều đó.
"Sự kiện hôm 02/03 không phải lần đầu và cũng sẽ không phải lần cuối Trung Quốc phô diễn sức mạnh trước các quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn ở Đông Nam Á."
Manila Times nói người Philippines đã nếm trải quyền lực của Trung Quốc tại Trường Sa vài lần trong quá khứ.
"Người Philippines cần có chính sách đối ngoại phù hợp, không để Trung Quốc muốn giần nhừ tử hải đội ọp ẹp của chúng ta lúc nào họ thấy cần trừng phạt chúng ta."
Bài xã luận kết thúc bằng câu: "Điều này không có nghĩa chúng ta phải cầu phục Trung Quốc mà có nghĩa là chính sách đối ngoại của chúng ta phải hướng tới làm sao để Trung Quốc không dám đối xử với chúng ta như những gì họ đã làm với Việt Nam năm 1979."
Giới bình luận khu vực cho rằng từ sau khi ông Benigno Aquino lên cầm quyền, chính phủ Philippines đang có các động thái thắt chặt quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ
nguồn: BBCvietnamese.

NGÔI MỘ TRÊN ĐẢO GIỮA HỒ GƯƠM

Tháp rùa giữa Hồ Hoàn Kiếm là hình ảnh quá quen thuộc với người Việt Nam nhưng chắc không nhiều người biết rằng nguyên tòa tháp này được xây lên với chức năng như một ngôi mộ.

Tháp Rùa là tên gọi nôm na của người dân để gọi ngọn tháp 3 tầng nằm trên gò Rùa giữa hồ Hoàn Kiếm. Từ thời vua Lê Thánh Tông, trên gò Rùa đã có điếu đài làm nơi cho nhà Vua ra câu cá, ngâm vịnh thơ ca. Sang thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh lại dựng đình tả vọng trên đó. Song trước khi Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh đã cho phá bỏ tất cả những gì họ Trịnh dựng lên. Đình tả vọng vì thế cũng bị phá bỏ không thương tiếc. Rồi mấy chục năm binh hỏa, gò rùa chỉ nằm trơ giữa hồ Hoàn Kiếm.


Sau khi quân Pháp chiếm thành Hà Nội, dân vùng quanh hồ Hoàn Kiếm xiêu tán cả. Bấy giờ, bá hộ Kim (Nguyễn Ngọc Kim) là người làm trung gian liên lạc giữa dân bản xứ với chính quyền thực dân. Y thấy gò Rùa nằm giữa hồ là một huyệt đất đẹp, nghĩ rằng đó là huyệt có thể phát bá vương nên bá hộ Kim âm mưu đặt mộ cha mẹ mình vào đó.

Năm 1886, bá hộ Kim xin phép chính quyền thực dân và xây lên gò Rùa một tòa tháp 3 tầng. Ban đầu tòa tháp này mang tên là tháp bá hộ Kim.  Kiến trúc của nó là sự kết hợp hai nền kiến trúc đông tây. Hai tầng dưới trổ các cửa theo kiểu cửa vòm của nhà thờ phương tây. Còn tầng trên cùng lại làm mái kiểu truyền thống với đầu đao và lưỡng long trầu nhật. Đánh giá về tháp Rùa, từ điển Địa danh lịch sử Việt Nam (NXB Văn hóa thông tin, 1998) viết: tháp Rùa không có giá trị về mặt kiến trúc. Còn từ điển mở Wikipedia thì cho rằng đó là một sự kết hợp thất bại hai nền kiến trúc đông tây.


Tháp rùa xây xong, bá hộ Kim tổ chức khánh thành linh đình và đem cốt cha mình ra đặt vào đó. Chuyện đặt hài cốt cha mẹ bá hộ Kim cũng có nhiều câu chuyện ly kỳ. Nhà văn Băng Sơn kể ra một câu chuyện trong một bài ký về hồ Gươm rằng: “ Hôm táng, đêm tối nhá nhem, đám thợ sau khi hoàn thành công việc lẻn trở lại vứt cốt ông lão xuống hồ”. Còn cố giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng thì kể rằng: “Bá Kim chờ đến đêm mới lẻn đem cốt bố ông ta ra tháp đặt. Có người rình ông ta vừa quay vào thì lập tức ra đào vứt đâu không ai biết” (theo bài báo "Có nên đập bỏ tháp rùa" - đăng trên Tiền Phong cuối 2002).

Việc bá hộ Kim vì chơi với chính quyền thực dân mới dám ngang nhiên xây tháp đặt cốt cha mẹ giữa trung tâm đất Hà thành ngàn năm văn hiến đã có một kết cục theo đúng logic của văn hóa Việt. Đó là những thứ chỉ vì mục đích cá nhân thì không trường tồn được. Câu chuyện đó đã diễn ra từ hơn trăm năm trước. Còn giờ đây, tháp bá hộ Kim ngày nào đã được mang tên Tháp Rùa và trở thành một điểm chiêm ngưỡng du lịch giữa lòng thủ đô.

Dưới con mắt nghệ thuật thì tháp Rùa không đẹp chút nào vì nó là một sự kết hợp vụng về. Nhưng những câu chuyện về kết cục của việc đặt cốt cha bá hộ Kim thì như một thang thuốc để người Hà thành đắp lành vết thương.

Vì bá hộ Kim được chính quyền thực dân bảo hộ nên người ta không thể đập phéng cái tháp đi được. Song từ những anh thợ nề trong câu chuyện của nhà văn Băng Sơn hay một người dân thường nào đó trong vùng đã bí mật vứt tro cốt bố bá hộ Kim đi, đều thể hiện rằng mọi người dân Việt đều hiên ngang bất khuất. Không có chuyện một kẻ đi cúi đầu làm tay sai cho quân xâm lược lại có thể mơ đến ngôi vương đế của nước Việt Nam với truyền thống 4000 năm quật khởi.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011

Một bài báo hiếm hoi về một cuộc chiến chống quân xâm lược TQ năm 1979


Một ngày cuối tháng 2.2011, tại thành phố Lạng Sơn đã diễn ra cuộc gặp mặt đầy xúc động giữa những cựu quân nhân Quân đoàn 14 nhân kỷ niệm 32 năm thành lập đơn vị. Chính tại mảnh đất biên cương này, hàng nghìn đồng đội của họ đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc...
Mặc dù vẫn có dịp gặp nhau hằng năm, nhưng với những cựu quân nhân của Quân đoàn 14, cuộc gặp năm nay vẫn là một sự kiện đặc biệt. Đây là lần đầu tiên lễ kỷ niệm được tổ chức tại chính Lạng Sơn, mảnh đất tiền tiêu mà 32 năm trước đã diễn ra những trận đánh ác liệt nhất của quân và dân ta để giữ vững từng tấc đất biên cương Tổ quốc... Với nhiều đồng đội cũ, đây là cuộc gặp gỡ sau hàng chục năm xa cách. Người đã chuyển ngành, người vẫn phục vụ trong quân đội nhưng dường như mọi ký ức, tình cảm của những người lính Quân đoàn 14 vẫn còn vẹn nguyên như ngày nào.
Nhiều cựu chiến binh đã rất xúc động khi gặp lại cụ Lường Thị Kim, 87 tuổi, nguyên Chủ tịch Hội Phụ nữ Lạng Sơn. Thời kỳ chiến tranh,  cụ Kim đã cùng với các mẹ, các chị đã tới từng chiến hào để động viên những người lính chiến đấu. Những người lính trẻ đã kính trọng gọi bà là “mẹ Kim”, là “bà chính ủy”.
Đầu tháng 2.1979, ông Vũ Hữu Túy lúc đó là trung đội trưởng của Lữ đoàn 22 thuộc Bộ tư lệnh tăng thiết giáp làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay Nội Bài. Khi tình hình biên giới với Trung Quốc căng thẳng, đơn vị ông được điều động lên Lạng Sơn, sau đó sáp nhập cùng trung đoàn tăng - thiết giáp 407 làm nhiệm vụ chặn đánh địch ở phía đường 4 - Na Dương. Quê gốc ở Nam Định nhưng khi Quân đoàn giải thể năm 1988, ông Túy đã chọn ở lại mảnh đất mà ông đã gắn bó cả một thời trai trẻ. Sau hơn 20 năm xa cách, hôm nay ông mới gặp lại đại tá Đỗ Vinh, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 407 và hiện vẫn đang công tác tại một học viện của quân đội.

Cầu Khánh Khê, nơi ghi dấu những chiến công của sư đoàn 337 - Ảnh: Trường Sơn
Những câu chuyện thân tình như họ mới chỉ tạm biệt nhau ngày hôm qua. Cũng như ông Túy, đã có rất nhiều cựu quân nhân chọn ở lại mảnh đất Lạng Sơn để gắn bó cuộc đời sau khi giã từ nghiệp lính. “Hơn 30 năm sau chiến tranh, cuộc sống của người dân xứ Lạng đã thanh bình, sung túc; nhưng chúng ta vẫn cần nhắc nhở các thế hệ sau về một trang sử đã qua để những ngày tháng đó không bao giờ lặp lại”, ông Túy nói.
Trận đánh bên sông Kỳ Cùng
32 năm trước, theo quyết định của Bộ Chính trị, ngày 24.2 Quân đoàn 14 được hình thành tại mặt trận Lạng Sơn. Thiếu tướng Nguyễn Hiền, nguyên Chỉ huy phó chính trị Quân đoàn 14 cho biết: lực lượng của Quân đoàn lúc đó gồm có 5 sư đoàn bộ binh cùng 6 trung đoàn pháo binh, cao xạ, tăng thiết giáp, công binh, thông tin trực thuộc. Tổng quân số của quân đoàn lúc đó khoảng 8 vạn người.
Cùng với nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương, Quân đoàn đã có nhiều trận đánh lớn như trận Đồng Đăng, trận đồi Chậu Cảnh của Sư đoàn 3, trận cầu Khánh Khê trên đường 1B của sư đoàn 337, trận đánh tập kích vào sau lưng địch của sư đoàn 338. Mặc dù huy động một lực lượng lớn gấp nhiều lần ta (3 quân đoàn địch tiến đánh 2 sư đoàn ta), tấn công ào ạt nhưng chúng đã bị đánh trả khắp nơi, càng tiến sâu càng thiệt hại nặng nề. Tấn công ta từ 17.2.1979 theo hướng từ Hữu Nghị quan về thị xã Lạng Sơn nhưng tới ngày 3.3.1979 địch mới tới được bờ bắc sông Kỳ Cùng với tốc độ tiến quân chưa đến 0,8 km/ngày. Ngày 5.3.1979, địch buộc phải tuyên bố rút quân vô điều kiện. Quân đoàn 14 sau đó đã vinh dự được mang phiên hiệu Binh đoàn Chi Lăng, tên gọi gắn với những chiến công vang dội của cha ông tại vùng biên viễn.

Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê - Ảnh: Trường Sơn
Nhắc tới những người lính đã hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ biên cương, đại tá Nguyễn Chấn, nguyên chính ủy Sư đoàn 337 không kìm được xúc động. Những giọt nước mắt ứa ra từ đôi mắt người chỉ huy cả đời đánh giặc. Năm nay đã gần 90 tuổi, tham gia cách mạng từ năm 1945, ông đã từng kinh qua những cuộc chiến tranh ác liệt nhất, từ đánh Pháp, đánh Mỹ rồi đến chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Cho đến giờ những hình ảnh về những người lính mà phần đông ở tuổi mười tám đôi mươi đã ngã xuống trong cuộc chiến “chớp nhoáng” 32 năm về trước vẫn in đậm trong ký ức ông.
“Tinh thần của bộ đội ta thời kỳ đó phải nói là vô cùng ghê gớm. Đã đánh nhau nếu nói là không sợ chết là không đúng. Không có ai muốn chết cả, không ai muốn vợ mình thành góa bụa, con mình thành côi cút.... Lúc đó cấp trên cũng có cần giáo dục, động viên nhiều đâu. Nhưng người lính là như thế, vì Tổ quốc, vì danh dự, vì nhiệm vụ họ sẵn sàng xả thân”, đại tá Nguyễn Chấn nói. Tâm tư lớn nhất của đại tá Nguyễn Chấn cùng các cựu chiến binh của Quân đoàn 14 đó là mong muốn mai đây, trên mảnh đất này một ngôi đền thờ những người lính mọi thời đại đã ngã xuống vì mảnh đất quê hương sẽ được dựng nên.
Có mặt trong dịp kỷ niệm này còn có đại tá Đỗ Phấn Đấu, Chính ủy hiện tại của Sư đoàn 337. Chuyến về thăm Lạng Sơn dịp này của đại tá Đấu còn mang một mục đích khác. Đó là thu thập, bổ sung thêm một số tư liệu cho một cuốn sách về lịch sử đơn vị đang được biên soạn. “Sư đoàn 337 giờ đây đã được chuyển thành đơn vị làm nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng nhưng những chiến công gắn với công cuộc bảo vệ biên giới phía Bắc mãi mãi là những trang sử chói lọi nhất của sư đoàn”, đại tá Đấu nói.
Sau năm 1979, Sư đoàn 337 được mang phiên hiệu đoàn Khánh Khê, tên cây cầu đã gắn với lịch sử sư đoàn. Năm 1979, Sư đoàn 337 đang làm nhiệm vụ tại Quân khu 4 thì được điều động lên biên giới phía Bắc. Vừa hành quân thần tốc “dặm bước thần kỳ phong cách Quang Trung” vừa bổ sung lực lượng, đến ngày 25.2.1979, cơ bản lực lượng của Sư đoàn đã vượt qua 500 km từ Nghệ An đến Lạng Sơn và ngay lập tức bước vào chiến đấu.
Nhiệm vụ của sư đoàn lúc đó được trên giao là ngăn chặn thê đội 2 của địch tấn công theo hướng đường 1B với ý đồ vu hồi phía sau thị xã Lạng Sơn. “Nếu chúng thực hiện được việc này Lạng Sơn sẽ hoàn toàn bị chia cắt, lúc đó sẽ rất khó đuổi chúng đi, hoặc nếu có đi cũng sẽ kèm theo những điều kiện rất ghê gớm”, đại tá Nguyễn Chấn nhớ lại.
Trong suốt cuộc chiến đấu 12 ngày đêm chống quân xâm lược tại tuyến phòng thủ này, những người lính của 337 cùng quân, dân huyện Văn Quan đã chiến đấu anh dũng, kiên cường bám trụ “một tấc không đi, một ly không rời” quyết không để địch vượt qua được sông Kỳ Cùng. Từ 28.2 - 5.3.1979 đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt, địch lợi dụng lực lượng áp đảo đã mở nhiều cuộc tấn công sống chết nhằm vượt sông đều bị ta đánh bật trở lại.
Sáng 28.2.1979, địch huy động hai quân đoàn và dân binh cùng hàng trăm khẩu pháo các loại nổ súng tấn công toàn tuyến phòng ngự của sư đoàn. “Cuộc chiến đấu tại điểm cao 649, điểm cao nhất trong hệ thống điểm cao tại quanh khu vực cầu Khánh Khê diễn ra cực kỳ ác liệt, ta bắn sang địch được một viên đạn thì chúng đáp trả một trăm lần”, đại tá Hoàng Hoa Chiến, nguyên trưởng ban tác chiến sư đoàn 337 nhớ lại. Tại điểm cao này, đại đội 9 thuộc tiểu đoàn 3 do trung đội trưởng Trần Minh Lệ đã kiên cường chống trả gần 13 đợt tấn công của địch. Sau hai ngày chiến đấu phía ta đã thương vong nhiều, lương thực và đạn dược đều cạn trong khi lực lượng của địch vẫn liên tục áp đảo. Bị thương nặng, anh Trần Minh Lệ vẫn không rời trận địa mà chờ địch vào gần mới giật thủ pháo tiêu diệt và đã hy sinh anh dũng.
Theo tài liệu tổng kết của 337, ước tính ta đã tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, phá 8 xe tăng và thu được một số vũ khí, chặn đứng và đánh bại ý định vu hồi bao vây chia cắt Lạng Sơn của địch. Thế nhưng cũng đã có hơn 650 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 337 đã vĩnh viễn nằm xuống hai bên bờ sông Kỳ Cùng...
Trong thành phần của Sư đoàn 337 còn có Trung đoàn 197 nguyên là lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh Bắc Thái (này là Thái Nguyên). Đây là đơn vị đã cơ động lên Lạng Sơn ngay trong ngày 17.2.1979 sau khi nổ ra chiến sự. Sau đó Trung đoàn 197 được phối thuộc cùng Sư đoàn 337 và tham gia các trận đánh ác liệt tại khu vực cầu Khánh Khê. Trong một trận đánh tại điểm cao 607 (đồi Xanh) một tiểu đội chỉ có 7 người do đại đội trưởng Vi Văn Thắng chỉ huy đã kiên cường chiến đấu với một mũi tiến công hàng trăm tên địch. Đạn hết, cả tiểu đội đã ôm lê xông lên đánh giáp là cà với địch và giữ trận địa đến lúc tất cả đều hy sinh. Xác các anh nằm chồng lên xác địch, mắt nhắm, tắt thở nhưng tay không rời súng. Sau chiến tranh người dân đã gọi ngọn đồi nơi các anh hy sinh là đồi Vi Văn Thắng.
Trước khi rời Lạng Sơn, chúng tôi cùng đại tá Đấu đến thăm lại cây cầu Khánh Khê lịch sử. Nối hai bờ sông Kỳ Cùng giờ đây đã có cây cầu Khánh Khê mới cách xa cầu cũ chừng 500m. Một công trình thủy điện nhỏ đang được thi công ngay gần đó. Sau khi công trình này hoàn thành, cây cầu Khánh Khê cũ sẽ chỉ còn là kỷ niệm. Thế nhưng vẫn còn đó tấm bia bê-tông được đúc hơn ba mươi năm về trước ghi lại chiến công của sư đoàn 337 cùng quân dân huyện Văn Quan chặn đứng quân xâm lược những ngày tháng 3.1979. Những người thợ thi công biết ở đây từng có bộ đội hy sinh nên đã đặt trên tấm bia một bát hương. Những dấu tích của thời gian và con người đã xóa mờ một vài chỗ trên tấm bia. Thế nhưng người ta vẫn có thể đọc được dòng chữ “... Sư đoàn 337 đã đánh bại và chặn đứng quân... xâm lược”.
Nguyên Phong

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

" láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" Hic! hic!

Toan tính của Trung Quốc ở Biển Đông

Từng làm công tác đàm phán biên giới nhiều năm và tham gia các hội thảo quốc tế về Biển Đông thời gian qua, ông Trần Công Trục cũng khuyến nghị đối sách cho Việt Nam, bên tham gia tranh chấp chủ quyền tại vùng biển này.
Theo TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, một loạt những động thái gần đây của Trung Quốc liên quan đến Biển Đông không phải ngẫu nhiên, bộc phát mà được tính toán, có sự phối hợp về mặt quân sự, dân sự, tuyên truyền, pháp lí, có mục đích cụ thể, nhất là trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay.
Một loạt những hành động có tính toán
Mới đây mạng thông tin Trung Quốc có nói về sự kiện Hoàng Sa năm 1974 và nói rằng đây là phản ứng tự vệ của quân dân Trung Quốc đối với vùng đất có chủ quyền của Trung Quốc. Ông đánh giá như thế nào về động thái này từ phía Trung Quốc?
Động thái nói trên của Trung Quốc không có gì mới. Chúng ta đã từng được nghe khá nhiều lần những thông tin tương tự  trước khi Trung Quốc dùng sức mạnh để gây ra các sự kiện tranh chấp trên các vùng biên giới và  trên biển. Vấn đề chúng ta cần xem xét, tìm hiểu là tại sao trong thời điểm hiện nay, họ lại nhắc lại luận điểm này?
Trong thời gian gần đây cùng với luận điểm đó, Trung Quốc gia tăng nhiều hoạt động liên quan đến Biển Đông. Chẳng hạn, họ chuẩn bị khởi động một siêu dự án mang tên "Vùng sâu Biển Đông", nghiên cứu,khám phá Biển Đông,  tiến hành các hoạt động ngăn chặn bắt bớ, cản trở gây nhiều khó khăn với tàu thuyền VN đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam, tiếp tục tiến hành xây dựng, củng cố các vị trí họ đã chiếm đóng trên khu vực quần đảo Hoàng Sa, kể cả Trường Sa, đặc biệt tích cực vận động, kêu gọi các công ty nước ngoài đầu tư khai thác dầu khí trong các khu vực biển, thềm lục địa của Việt Nam và của các nước khác trong khu vực.
Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu VN trên đường ra Hoàng Sa. Ảnh tư liệu
Trên mặt trận tuyên truyền, pháp lí, Trung Quốc lại tung ra bản đồ trực tuyến vẽ đường biên giới biển hình lưỡi bò để một lần nữa hợp thức hóa đường  "lưỡi bò" phi lý đã bị cộng đồng quốc tế phê phán, bác bỏ.
Rõ ràng, đây là một loạt các hoạt động được tính toán, có sự phối hợp về mặt quân sự, dân sự, tuyên truyền, pháp lí. Những hoạt động này không phải là ngẫu nhiên, bộc phát mà đều có mục đích cụ thể, nhất là trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay.
Quá trình chiếm đóng bằng vũ lực
Vì sao ông lại cho rằng đây là những hành động có tính toán cụ thể?
Để trả lời câu hỏi này, theo tôi, ta nên quay lại các mốc thời gian lịch sử có liên quan đến quá trình Trung Quốc tiến hành xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Viêt Nam.
Năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc nhảy vào tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang nằm dưới sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp, với danh nghĩa là đại diện cho nhà nước Việt Nam về mặt đối ngoại, bằng  hành động của viên đô đốc Lý Chuẩn, theo lệnh của Tổng đốc Lưỡng Quảng, đưa vài ba pháo thuyền ra khu vực Hoàng Sa bắn pháo, đổ bộ lên vài đảo, rồi nhanh chóng lặng lẽ rút lui.
Năm 1946, lợi dụng việc giải giới quân Nhật theo sự ủy thác của Đồng Minh, Chính quyền Quốc dân Đảng đã đưa tàu chiến ra chiếm đóng một số đảo thuộc hai quần đảo này. Tàu chiến mang tên Thái Bình của Quốc dân đảng đã đổ quân lên chiếm đóng đảo Ba Bình của Việt Nam mà người phương Tây gọi là Itu Aba,  để rồi từ đó hòn đảo này được gán ghép cho một tên mới "Thái Bình đảo" theo đúng cách thức truyền thống của Trung Quốc.
Năm 1956, hai năm sau khi Hiệp định Gieneve được ký kết, trong thời điểm chuyển quân và chuyển giao quyền quản lý giữa các lực lượng và chính quyền của hai miền Nam Bắc Việt Nam theo Hiệp định Gieneve lấy vỹ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời. Lợi dụng tình hình quân đội Pháp buộc phải rút quân, quân đội của chính quyền Nam Việt Nam chưa đủ sức tiếp quản hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, thực hiện một bước tiến quan trọng của họ xuống khu vực Biển Đông.
Trước tình hình đó, Chính quyền Sài Gòn đã đưa quân ra đóng giữ nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa và với tư cách là người quản lý hợp pháp phạm vi lãnh thổ từ vỹ tuyến 17 trở vào, chính quyền Sài Gòn đã chính thức phản đối hành động xâm chiếm trái phép của Trung Quốc nhóm phía Đông Hoàng Sa, đồng thời tiến hành các hoạt động ngoại giao, pháp lý để thực hiện và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ảnh: VietNamNet
Năm 1959, Trung Quốc lại tiếp tục huy động lực lượng quân sự giả dạng tàu đánh cá mon men nhòm ngó xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa nhưng không thành. Quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, với sự trợ giúp trực tiếp của Hoa Kỳ, toàn bộ tàu "đánh cá " của Trung Quốc đã bị tóm gọn và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng.
Đến đầu những năm 1970, trước những diễn biến quan trọng về quân sự, chính trị... đang diễn ra tại Việt Nam, Trung Quốc  lại tiếp tục có những hoạt động để chuẩn bị cho cuộc chiếm đóng mới bằng quân sự. Lợi dụng bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, trong tình thế xuống dốc của chính quyền miền Nam và sự rút lui của Hoa Kỳ, ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã điều 11 tàu chiến với sự yểm trợ của máy bay tới xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Sài Gòn đã huy động 4 chiến hạm ra chống trả nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch nên cuối cùng, nhóm đảo này đã rơi vào tay Trung Quốc. Trung Quốc đã hoàn thành việc xâm chiếm bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào thời điểm trước khi miền Nam Việt Nam được giải phóng.
Năm 1988, Trung Quốc lại đưa quân xuống khu vực quần đảo Trường Sa, dùng tàu chở các phương tiện, gạch ngói, xi măng đổ lên một số  bãi cạn, biến các bãi cạn này thành các căn cứ quân sự, ngang nhiên khiêu khích và  gây ra cuộc đụng độ với Hải quân Việt Nam cũng trong bối cảnh có những khó khăn về kinh tế mà Việt Nam phải đương đầu và tình hình chính trị quốc tế có những diễn biến phức tạp bất lợi cho Việt Nam tại thời điểm đó.
Năm 1995, Trung Quốc lại  tiếp tục dùng sức mạnh đánh chiếm đảo Vành Khăn, một đảo đá nằm phía tây nam Trường Sa.
Phải chăng, Trung Quốc có hàng loạt những động thái kể trên vì bối cảnh quốc tế đang thuận lợi cho họ khi các nước lớn và ASEAN đang bận tậm với những vấn đề khác?
Bài học của lịch sử nhân loại cho thấy rõ những cuộc xung đột, xâm chiếm thường xảy ra khi kẻ xâm lược  biết cách khai thác và tận dụng cơ hội.  Phải chăng bối cảnh và tình hình quốc tế hiện nay có thể sẽ là cơ hội để cho nhưng âm mưu muốn biến Biển Đông trở thành ao nhà của mình trở thành hiện thực?
Tuy nhiên, tôi cho rằng, Biển Đông là khu vực vô cùng quan trọng và có mối liên quan mật thiết đến hoà bình, an ninh và ổn định ở châu Á - Thái Bình Dương, một địa bàn chiến lược đối với nhiều cường quốc.
Bởi vậy, người ta không bao giờ có thể quên những vấn đề tiềm ẩn ở khu vực Biển Đông, nơi tranh chấp phức tạp, nhạy cảm  trong thế cân bằng cán cân lực lượng thế giới. Chắc chắn các chính khách, các chiến lược gia, giới quân sự của các nước có liên quan đều đã phải tính đến để có những đối sách thích hợp.
Đối sách cho Việt Nam
Vậy theo ông, trước những diễn tiến đó, Việt Nam cần phải có đối sách như thế nào?
Việc họ có thực hiện được tham vọng độc chiếm Biển Đông hay không còn là một vấn đề và còn phụ thuộc vao nhiều yếu tố.
Tôi cho rằng, yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của chúng ta trên Biển Đông trong bối cảnh hiện nay chính là sức mạnh của sự đại đoàn kết của  dân tộc Việt Nam. Nếu như nội bộ chúng ta  không đồng lòng, không nhất trí, thiếu sự quan tâm cần thiết đến chủ quyền biển đảo và không tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế thì sẽ là yếu tố tạo cơ hội cho những mưu toan xâm lược sẽ được thực hiện. Bài học lịch sử đã cho thấy điều này.
Tôi tin rằng người Việt Nam, dù đang sống  ở đâu, đều luôn luôn hướng về Đất Nước và sẵn sàng đóng góp tinh thần lẫn vật chất để bảo vệ từng tấc đất Tổ Quốc. Chúng ta phải tìm mọi cách giữ gìn và phát huy được sức mạnh vô song này.
Chúng ta phải triển khai mạnh mẽ và kịp thời cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam bằng sự phối hợp một cách chủ động, chặt chẽ, liên tục trên các mặt quân sự, ngoại giao, pháp lý, tuyên truyền... Đặc biệt, cần phải tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế, dù đó là cá nhân hay tổ chức, của các quốc gia, dù là nhỏ hay lớn... như những gì mà thời gian qua chúng ta đã làm và đã thu được những kết quả đáng kể trong các hoạt động ngoại giao của mình.

Vụ án hiệu trưởng mua dâm: Xử kín là phạm luật?

Nếu những lập luận dưới đây của luật sư Trần Đình Triển đúng như quy định của pháp luật hiện thời của Việt nam thì TAND tỉnh Hà Giang cần nghiên cứu sớm thay đổi những sai lệch do vô tình, hay do lập luận chưa chính xác nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật được thực thi. TAND tỉnh Hà Giang cũng nên có phát ngôn chính thức bảo vệ quan điểm của mình để người dân được hiểu biết thêm về pháp luật  tránh suy diễn sai lệch gây dư luận không tốt, đặc biệt với vụ án tai tiếng đáng xấu hổ này. (leanhxuan).
Vụ án hiệu trưởng mua dâm: Xử kín là phạm luật?
“Việc TAND tỉnh Hà Giang tiến hành xử kín vụ án Sầm Đức Xương, nguyên hiệu trưởng trưởng THPT Việt Lâm mua dâm học trò là không đúng quy định của pháp luật”, luật sư Trần Đình Triển - Trưởng Văn phòng luật sư Vì Dân nói.
Luật sư Trần Đình Triển khẳng định: “Luật pháp quy định chỉ tiến hành xử kín đối với những vụ án liên quan đến bí mật quốc gia hoặc đạo đức thuần phong mỹ tục. Trong khi đó, vụ án Sầm Đức Xương thì không có yếu tố bí mật quốc gia, mọi thông tin về hành vi mua dâm, bán dâm đã được công khai.
Trong phiên tòa sơ thẩm vào tháng 11/2009, Tòa án tiến hành xử kín với lý do các bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy và Nguyễn Thúy Hằng đang ở tuổi vị thành niên. Nhưng nay các bị cáo đã trên 18 tuổi, việc tòa quyết định xử kín là không đúng quy định của pháp luật”.
Cũng theo luật sư Triển, các cơ quan tố tụng tỉnh Hà Giang đã vi phạm nhiều quy định, thủ tục tố tụng. Ông Triển nói: “Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, xét xử hành vi của các bị cáo ở thời điểm phạm tội. Các bị cáo Thúy và Hằng khi phạm tội đều dưới 18 tuổi, do đó phải có người giám hộ.
HĐXX phiên tòa sơ thẩm tuyên tịch thu, sung công quỹ số tiền đối tượng mua dâm đưa cho các bị cáo. Theo quy định pháp luật, người giám hộ là bố mẹ của các bị cáo, có nghĩa vụ phải trả thay. Như vậy, người giám hộ phải tham gia tố tụng với tư cách quyền và nghĩa vụ liên quan”.
Theo Phúc HưngVTC News

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

Phê phán cách đối xử nhà báo ở Trung Quốc

Phát ngôn viên Khương Du đã yêu cầu các nhà báo nước ngoài "tuân thủ quy định của cảnh sát Trung Quốc
Liên đoàn Nhà báo Quốc tế (IFJ) gọi lệnh của chính phủ Trung Quốc bắt các phóng viên nước ngoài phải nghe lời là "một sự đe dọa" và đòi Bắc Kinh xin lỗi các nhà báo bị hành hung.
Tổ chức hỗ trợ các phóng viên quốc tế này bày tỏ thái độ sau khi chính quyền Trung Quốc cảnh cáo các nhà báo nước ngoài "vi phạm quy định của công an" vì đã đưa tin về cuộc phản đối ở Bắc Kinh và Thượng Hải các ngày 20 và 27/2.
Hôm 1/3, bà Khương Du, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu các nhà báo nước ngoài "hợp tác" với cảnh sát sau vụ một vài phóng viên bị đánh vì ra phố làm tin về lời kêu gọi biểu tình chống chính phủ.
Chủ Nhật tuần trước, nhiều phóng viên nước ngoài tập trung vào khu mua sắm đông người ở Bắc Kinh hôm Chủ Nhật để tường thuật các lời kêu gọi giấu tên trên mạng Internet đòi biểu tình chống chính phủ ở nơi đây, theo cách như ở Bắc Phi.
Bắt không trừ ai
Chính quyền tung ra một chiến dịch an ninh lớn với hàng trăm cảnh sát mặc quân phục và thường phục, tràn ra trên phố.
Các nhóm đàn ông mặc thường phục giận dữ dẹp phóng viên nước ngoài đi chỗ khác và nhanh chóng tạm giữ một vài người, đưa lên xe công an.
Theo BBC Tiếng Trung, chính quyền Trung Quốc cũng vừa ra một lệnh đặc biệt buộc các nhà báo trong nước không bình luận gì đến Cách mạng Hoa Nhài.
Mấy hôm nay, các đài báo Trung Quốc bắt đầu tung ra một chiến dịch lên án các phóng viên nước ngoài "gây chuyện" và "thổi lên chuyện tuần hành Hoa Nhài".
Nay, IFJ cho rằng bình luận của bà Khương là "thiếu trách nhiệm", và nêu ra một loạt trường hợp phóng viên nước ngoài bị "xách nhiễu, hành hung và tạm giữ" trong khi làm tin.
Theo IFJ, không chỉ các phóng viên người Phương Tây từ Bloomberg TV, BBC, CNN, Deutsche Presse-Agentur, đài truyền hình chính phủ Đức ARD, mà cả các phóng viên châu Á từ ATV, TVB, Cable TV, RTHK ở Hong Kong và iSet TV từ Đài Loan cũng bị công an Trung Quốc đối xử tệ.
Phóng viên BBC thường trú tại Bắc Kinh, Damian Grammaticas là một người trong số đó và đã có bài viết kể lại câu chuyện anh bị hành hung ra sao.
Một người trong số các nhà báo nay bày tỏ sự ngạc nhiên vì họ là "nạn nhân, chứ không phải công an".
Người này, xin không nêu tên, cũng được IFJ trích lời nói lệnh cấm quay phim và gặp gỡ người dân Trung Quốc tại các điểm công cộng là vô lý.
Vì theo các phóng viên nước ngoài, chỗ công cộng từ xưa tới nay luôn là nơi được làm phóng sự và "chính quyền không thể ra lệnh cấm tùy hứng được".
Trong cuộc họp báo hôm 1/3, bà Khương Du từ chối không giải thích các "quy định" mà bà nói nhà báo nước ngoài vi phạm là gì.
Trước khi xảy ra vụ hành hung nhà báo hôm 27/2, một số văn phòng báo chí nước ngoài nhận được điện thoại từ công an nói họ phải đăng ký trước khi ra khu vực buôn bán như Vương Phủ Tỉnh ở trung tâm Bắc Kinh.
Tổng thư lý IFJ, Aidan White nay nói:
"Thật vô cùng đáng tiếc rằng người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại có thể đứng ra bào chữa cho hành vi côn đồ và bạo lực của nhân viên công lực nhắm vào các nhà báo".
"Chúng tôi yêu cầu nhà chức trách Trung Quốc ngay lập tức phải xin lỗi các phóng viên báo chí là nạn nhân của hành vi đó và cho điều tra ngay các vụ cảnh sát hành hung nhằm đảm bảo vụ việc không xảy ra nữa".
Bão trong ly trà nhài?
Điều lạ là chuyện đấu tranh kiểu Cách mạng Hoa Nhài có vẻ chỉ xảy ra trên các diễn đàn mạng tiếng Trung hơn là trong thực tế nhưng khiến chính quyền rất lo ngại
Công an chặn nhà báo nước ngoài đến Vương Phủ Tỉnh
Bà Vương Tống Lâm, từ tổ chức Bảo vệ Nhân quyền Trung Quốc ở Hong Kong cho BBC hay hôm 3/3 rằng:
"So với năm 2009 thì điều thay đổi lớn năm 2010 là tình hình nhân quyền ở Trung Quốc xấu đi, vì chính phủ tăng cường trấn áp các nhà đấu tranh dân quyền."
Bà Vương cũng nói tổ chức của bà ghi nhận tới "hơn 3500 trường hợp" chính quyền tại Trung Quốc bắt giữ người dân vì đấu tranh cho quyền con người.
Hiện BBC chưa thể kiểm chứng được con số về các vụ việc diễn ra trước khi có lời kêu gọi Tuần hành Hoa Nhài.
Tuy nhiên, vì tuần này Trung Quốc bắt đầu họp Quốc hội để bàn về kế hoạch kinh tế 5 năm tới, chắc chắn chính quyền sẽ còn tăng cường an ninh hơn trước.
Chính quyền lo ngại rằng các sự kiện ở Trung Đông có thể tạo ra hứng khởi cho các cuộc nổi dậy xã hội ở Trung Quốc.
Công an Trung Quốc tiếp tục kiểm duyệt các trang mạng tìm kiếm liên quan đến chuyện này trên mạng và bắt giữ một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng trong lo ngại rằng cứ vào mỗi Chủ Nhật, kể cả tuần đầu tháng 3 này, sẽ lại có 'Tuần hành Hoa Nhài".
Công an Trung Quốc bắt người sau lời kêu gọi 'Cách mạng Hoa Nhài. 

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Người đàn bà giật thước của HĐTĐTS được trả tự do

Ai bảo các cơ quan thực thi pháp luật Việt nam không nghiêm?

Bị tạm giam gần 02 tháng để điều tra và ra tòa với tội danh  “Chống người thi hành công vụ” vì lỗi: giật đứt thước dây của hội đồng thẩm định tài sản. 
Cập nhật lúc 16:10 | 02/12/2010 (GMT+7)Trên http://www.phapluatvn.vn/
TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai vừa xét xử vụ án “Chống người thi hành công vụ” đối với bà Nguyễn Thị Dân vì đã  giật đứt cái thước dây của hội đồng thẩm định tài sản  (HĐTĐTS) trong trạng thái kích động mạnh.
Báo PLVN số 4.373 ra ngày 8/11 đăng bài: “Tình – lý trong một vụ án” phản ánh việc bà Nguyễn Thị Dân (45 tuổi, ngụ xã Xuân Tâm, Xuân Lộc, Đồng Nai) vì muốn giữ hạnh phúc gia đình, giữ tài sản cho con cái, trong giây phút không kiềm chế được đã giật đứt thước dây của Hội đồng thẩm định tài sản khi đi đo đạc đất đai cho vụ án lý hôn giữa vợ chồng bà.
Bà Dân bị bắt tạm giam hai tháng vì tội Chống người thi hành công vụ. Sau khi báo phản ánh, ngày 9/11 Huyện ủy Xuân Lộc đã có văn bản chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện, xem xét việc khởi tố, bắt tạm giam bà Dân sao cho đúng người, đúng tội.
Bà Dân được trả tự do sau khi tòa tuyên án
Bà Dân được trả tự do sau khi tòa tuyên án
(hãy nhìn gương mặt người dân xem họ yêu quý chúng ta ở mức nào???  Bloger nhận xet thêm)
Trong phần thẩm vấn, chủ tọa phiên tòa hỏi bà Dân: Vì sao giật đứt thước dây?, bà Dân trả lời: Vì nghĩ tài sản của mình là hợp pháp nên không muốn chia. Bà còn thương yêu chồng, con, không muốn gia đình “tan đàn xẻ nghé”, các con cũng không muốn cha mẹ ly hôn. Hơn nữa, khi đoàn xuống đo đất không giải thích cho bà hiểu quyền và nghĩa vụ khi tài sản của mình bị thẩm định để định giá.
Phần lớn câu trả lời của bà Dân là hoàn toàn chưa muốn ly hôn để các con được sống với cha, mẹ, hơn nữa bà chẳng hiểu gì về luật nên thấy tài sản của mình bị tòa án tổ chức xuống đo đạc thì sợ các con mất đất để sản xuất nên không cho đo, nếu bà được giải thích kỹ càng thì bà đã hiểu được sự việc rồi.
Các nhân chứng là thành viên HĐTĐTS hôm đó, khi được hỏi lúc đọc quyết định thẩm định có giải thích cho bà Dân hiểu các quyền và nghĩa vụ không thì ấp úng…không rõ lắm (?). Về phần yêu cầu bồi thường hai thước giây bị đứt, các nhân chứng không yêu cầu bồi thường, đặc biệt bà Dân không hề “tấn công” ai gây thương tích.
Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, trình độ am hiểu pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình, thiệt hại chỉ là hai chiếc thước dây; Tòa án tuyên bà Dân 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, trả tự do ngay sau khi tuyên án.
Phán quyết của tòa đã nhận được sự đồng tình của người dân bởi việc bị tạm giam 56 ngày đã khiến gia đình bà lâm vào cảnh điêu đứng; còn năm người con bà Dân ôm chầm lấy mẹ khóc nức nở.
Cụ Nguyễn Điệp (cha bà Dân) đã 88 tuổi đứng nhìn con, cháu vui mừng vì được trả tự do, giọng run run cụ nói: “Cảm ơn Báo PLVN đã đưa tin bài về vụ việc của con tôi, nó không phải là người xấu, chỉ vì không muốn gia đình tan nát nên nông nổi như vậy”; Bà Dân đến bên người cha già xin lỗi vì đã làm cha lo lắng và nói: “Cảm ơn Báo PLVN đã kịp thời lên tiếng giúp gia đình chúng tôi”.
Bào Dân cho biết, gia đình bà Dân cho biết sẽ kháng cáo vì cho rằng hành vi của bà không đáng bị tạm giam  gần 2 tháng.
Hồng Cơ