Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011

Điều chỉnh tỷ giá: “Kìm không được thì phải dùng bài cuối cùng”


▪  ANH QUÂN
17/02/2011 23:42 (GMT+7) Trên: http://vneconomy.vn
  

Ông Cao Sỹ Kiêm.
Việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh mạnh tỷ giá VND/USD vừa qua đã tạo nên nhiều phản hồi trái chiều.

Phân tích cụ thể về sự kiện này, đứng trên góc độ là nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia và Chủ tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, TS. Cao Sỹ Kiêm nói với VnEconomy trưa 17/2:

- Việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua là đúng và kịp thời. Việc điều chỉnh có hai tác động: tạo nên cung cầu mới, tạo khả năng thu USD vào thuận lợi hơn, góp phần chống nhập siêu, hạn chế găm giữ USD.

Nhưng, nó cũng gây tăng chi phí cho một số mặt hàng mà doanh nghiệp trong sản xuất phải sử dụng nhiều ngoại tệ để nhập thiết bị, tư liệu sản xuất. Làm tăng như thế thì sẽ kích thích lạm phát và đẩy giá lên. Bởi vì khi chi phí đã vào giá thành thì sẽ tạo điều kiện cho giá tăng. Đấy là một bất lợi khiến lạm phát tăng lên.

Và khi mà lạm phát tăng lên thì lãi suất một là không giảm được, hai là cũng phải tăng lên. Lãi suất cũng là biểu hiện của sức khỏe đồng tiền, là giá đồng tiền, phản ánh thực trạng nền kinh tế, thì có những mặt trái như thế.

Nhưng nếu nhìn về tổng thể toàn cục, việc tăng lên giải quyết được nhiều vấn đề tốt hơn: theo nguyên tắc thị trường, theo hội nhập, tạo lòng tin, tạo nên yếu tố minh bạch, chống gây ra găm giữ và rủi ro đầu cơ. Nhìn chung thì cái lợi nhiều hơn cái hại.

“Vít” lâu nên phải nới mạnh

Về thời điểm điều chỉnh, có ý kiến cho rằng đã để quá lâu nên đến khi điều chỉnh thì tăng lớn. Ông nghĩ sao?

Cái đó đúng. Chúng ta chưa giải quyết một cách cơ bản và có hệ thống những điểm gốc nên vừa qua phải xử lý tình huống. Vì lo lạm phát cuối năm 2010 “bục” ra nên một số biện pháp cứng mình đưa ra ngay, thí dụ như “vít” tỷ giá không cho tăng, tuyên bố trước Tết Nguyên đán không thay đổi tỷ giá… Trong khi giá thị trường thì theo cung cầu mà mình không cho theo, vít lại ngay thì tất nhiên nó đóng góp tạo nên ổn định nhưng nó sẽ “bục” ra sau.

Khi cung ít, cầu nhiều thì dứt khoát giá tăng lên thôi. Mình quy định 19.000 đồng/USD mà không có bán thì thị trường nó tăng lên 22.000 đồng/USD. Sự thực họ giao dịch với nhau 22.000 đồng/USD rồi.

Đến khi mình mở ra thì không thể mở thấp được, không thể mở 2-3%. Thị trường tăng lên 10% rồi thì phải mở 9,3% mới sát thị trường, đảm bảo cung cầu. 

Điều chỉnh sau Tết thì thanh khoản ngoại tệ dồi dào hơn, chứ để lúc khác sức ép rất lớn. Có xảy ra một số mặt trái, nhưng cũng có nhiều cái lợi, và lợi nhiều hơn thì ta làm.

Quá trình “vít” lại có ảnh hưởng gì đến dự trữ ngoại hối?

Ảnh hưởng chứ. Vì mình không mua được, mà mình tuyên bố 19.000 đồng/USD thì những cái rất cần thiết vẫn phải đáp ứng 19.000 đồng/USD. Mà cái ấy chủ yếu lấy ở dự trữ ra. Thêm vào thì không có, dự trữ phải nhả ra, nên ảnh hưởng đến dự trữ là có thật.

Nhưng được một cái là tuyên bố như thế đỡ kích tăng giá lên, hai là những ông găm giữ, đầu cơ cũng phải dè chừng. Cũng được một số mặt thôi.

Trong những giải quyết của mình hiện nay, có nhiều vấn đề mình không cơ bản nên phải chấp nhận những tác động phụ. Chứ ở nước ngoài, thí dụ tăng tỷ giá đã có lộ trình rồi, hoặc là có trích rủi ro tỷ giá rất đầy đủ, nên tăng bao nhiêu không sợ gì cả. Mình không có cái này, hoặc là rất nhỏ, nên tăng quá một cái là doanh nghiệp chơi vơi ngay.

Đấy là do khiếm khuyết của mình, nền kinh tế chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh. Thứ nữa là mình giải quyết tình thế nhiều cho nên chưa giải quyết được cơ bản.

Có quan điểm rằng nếu giữ nguyên biên độ thì chỉ phải phá giá hơn 7%, sẽ bớt ảnh hưởng đến tâm lý thị trường. Ông có thể nói gì?

Không. Bây giờ chúng ta phải dùng cả hai, một là biên độ và hai là giá chính. Trong tình hình hiện nay, nhất là Việt Nam, vấn đề tâm lý rất nặng nề, nhiều cái đồn thổi, thiếu thông tin, tạo tâm lý ảo...

Cho nên, trong thời điểm hiện nay phải nâng giá chính lên sát cung cầu để tránh lợi dụng, nhưng cũng còn phải kéo sát biên độ, để nếu có anh nào muốn lợi dụng cũng không làm được.

Tất nhiên, cái này đòi hỏi một điều kiện nữa, nếu không lại là hình thức và phản tác dụng. Đã xây dựng mặt bằng lớn hơn, cụ thể như thế này rồi, thì Ngân hàng Nhà nước phải rất linh hoạt, rất chủ động, khi có diễn biến thì phải thay đổi, xử lý ngay. Chứ nếu để như trước, cách quãng ra thì lại "cứng đơ" lại. Bắt đầu có biến động thì phải chỉnh, chỉnh, chỉnh… thì mới linh hoạt, mới giúp thị trường thông thoáng, không bị "nhảy cóc" nữa.

Vấn đề tâm lý với Việt Nam nặng nề lắm. Người ta hốt hoảng với nhiều cách xử lý của chúng ta rồi, nên cứ tự xử lý thôi. Người ta nghĩ, họ nói vậy chứ chưa chắc đã làm được, chưa chắc đã có, nên tôi phải tự đối phó trước.

Cho nên, sát được như thế này và kiểm tra thường xuyên, uốn nắn thường xuyên thì có lợi hơn và minh bạch hơn. Mấy hôm nay, tôi theo dõi các ngân hàng thương mại mua tốt hơn, dự trữ cao hơn, tình hình đỡ căng thẳng hơn và doanh nghiệp cũng dễ thở hơn, khả năng lợi dụng ít hơn...

Có phải việc điều chỉnh lần này là "hết sách" để có thể kìm hơn được nữa?

Đúng rồi. Giải quyết mà khả dĩ được thì tốt, nếu không được thì phải làm bài cuối cùng thôi. Nếu không được thì có khi phải trở lại giải pháp mệnh lệnh hành chính, tình thế. Nếu để cái đó xảy ra nhiều thì rất nguy hiểm, vì hành chính, mệnh lệnh là kỵ với thị trường, càng lợi dụng nhiều càng gây khủng hoảng cho kinh tế.

Tác động đến lạm phát không nhiều

Cách thức điều hành thị trường ngoại hối với biên độ hẹp, thay đổi linh hoạt hiện nay cũng từng được sử dụng nhưng vì sao lại bỏ?

Trước bỏ đi vì là biện pháp tình thế. Hiện nay, tinh thần là tỷ giá sẽ theo hình lượn sóng, người ta thấy nay lên, mai xuống thì cứ để kệ nó, người ta yên tâm hơn, không găm giữ. Chứ vọt phát nhảy lên rồi đứng lại thì bị đồn thổi ngay, lợi dụng đánh quả ngay.

Theo ông thì mức độ tác động đến lạm phát của đợt điều chỉnh lần này như thế nào?

Định lượng tác động vào lạm phát, tôi cho rằng cũng không nhiều, không quyết định lớn, vì lạm phát của chúng ta có nhiều nguyên nhân.

Lạm phát vừa qua không chỉ có nguyên nhân tiền tệ, không phải chủ yếu do yếu tố tiền tệ, mà còn do bội chi ngân sách cao, hiệu quả kinh tế kém, do nhập siêu quá lớn, rồi thì do những cân đối vĩ mô của chúng ta vừa qua giải quyết chưa triệt để. Nói cách khác là nền tảng ổn định vĩ mô không giải quyết triệt để.

Vừa qua chúng ta có làm được một số cái, nhưng mới là giải quyết tình thế, trước mắt, như hạn chế tăng tỷ giá, hạn chế cho vay nhập khẩu những mặt hàng này, cấm tăng giá một số mặt hàng nọ… toàn những biện pháp cấp cứu, nhưng biện pháp cơ bản chưa giải quyết được. Những vấn đề về năng suất lao động, nhập siêu cao, bội chi ngân sách cao, về hệ số ICOR cao vẫn còn nguyên vẹn, mà đó là những yếu tố trực tiếp dẫn đến lạm phát. Cho nên lạm phát vẫn rình rập, đe dọa.

Không thể hy vọng dùng một chính sách mà giải quyết được vấn đề lớn, mà mỗi thứ vào một tí thì sẽ tạo chuyển biến lớn. Cho nên việc điều chỉnh tỷ giá lần này tuy có hiệu ứng không tốt cho lạm phát, tăng chi phí cho doanh nghiệp, nhưng ta phải chấp nhận để lấy lại những cái khác. 

Hay nói cách khác, là chúng ta buộc phải chuyển từ giải pháp tình thế sang bền vững. Mình chấp nhận lạm phát tăng lên.

Để giải quyết lạm phát thì phải xử lý đồng bộ nhiều yếu tố của các lĩnh vực khác, thí dụ như nhập siêu, năng suất lao động, công ăn việc làm để tạo sức mua, rồi xử lý những cái gây rủi ro cho nền kinh tế nhiều, những yếu tố không tích cực cho nền kinh tế…

Chính sách thì không thể ai cũng lợi

Vậy theo ông, tình hình giá cả đầu vào, chi phí vốn cao như hiện nay có ảnh hưởng thế nào đến các doanh nghiệp?

Rất gay go. Tất nhiên, một số anh cũng chịu đau đớn, chứ không đơn giản đâu. Nhưng chính sách thì bao giờ cũng thế, có cái được, có cái mất, có anh được lợi, có anh phải chấp nhận thua thiệt… Không thể có cách cào bằng như nhau được.

Những doanh nghiệp lớn có thể lấy chỗ khác bù vào thì còn được. Còn những doanh nghiệp nhỏ thì một là phải chấp nhận bất cứ giá nào, theo kiểu uống thuốc độc chết từ từ. Hai là không làm ăn gì nữa, tôi đi chơi, đi lễ hội các thứ...

Cách đây một năm, lượng vay USD tăng rất mạnh, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước. Với những người vay USD từ năm ngoái thì thế nào?

Thua lớn. Là vì lúc đó không cần USD cũng vay để hưởng chênh lệch. Nay giá USD tăng thế này nghĩa vụ trả nợ rất lớn. Trước đây vay USD chỉ có 17-18 nghìn đồng/USD thôi, nay trả nợ 21 nghìn đồng USD thì dứt khoát là "bị" rồi.

Những doanh nghiệp nào thì được thuận lợi?

Những ông xuất khẩu thì được lợi thấy rõ rồi. Ví dụ là trước kia ông xuất hàng được 19.000 đồng/USD thì bây giờ được 22.000 đồng/USD.

Chứ còn mua nguyên liệu bán thành phẩm, nhập tất cả vật tư nguyên liệu mà làm một tí gia công thì có khi lại chịu lạm phát kép của nước ngoài, hiện vật tư nguyên liệu của người ta đang tăng giá do lạm phát của họ, ông xuất khẩu mà lại phải nhập vào với giá cao của họ, cộng với lạm phát của mình, có khi nếu không tính toán kỹ làm càng nhiều càng lỗ…

Chưa đến lúc thả nổi, kết hối

Như ông phân tích thì điều hành tỷ giá nên theo tín hiệu thị trường. Vậy liệu có đến lúc phải tính đến thả nổi tỷ giá?

Thả nổi tỷ giá là tốt. Phấn đấu đến lúc nào đó thả nổi tỷ giá, thả nổi lãi suất, lúc mà nền kinh tế hoàn chỉnh rồi và hoàn toàn kiểm soát được. Chứ bây giờ phải có bàn tay nhà nước, thả nổi sẽ hỗn loạn ngay.

Nếu kết hối ngoại tệ như một đại diện ngân hàng khuyến nghị gần đây thì sao, thưa ông?

Chưa được. Kết hối ngoại tệ là biện pháp sử dụng trong lúc cùng cực. Bây giờ thì chưa được. Vì đã dùng kết hối là mệnh lệnh, cách điều hành hành chính, bắt các anh phải bán từ này, chỉ được dùng bằng này… Cái đó chỉ có khi lạm phát đến mức sụp đổ mới phải làm, chứ hiện nay, nếu đưa ra là "chết" ngay, sẽ làm cho thụt lùi lại. 

Kết hối là biện pháp cuối cùng, bất lực rồi mới làm. Tất nhiên được hiệu quả một chút trước mặt nhưng có thể gây hậu quả, đặc biệt là lòng tin của nhà đầu tư.

Đại diện IMF: Quan trọng là niềm tin của dân

Đấy là ta nghĩ theo hướng người dân không tin vào sự điều hành kinh tế của nhà nước, sao ta không nghĩ theo hướng người dân lựa chọn phương pháp bảo vệ nguồn vốn của họ. Đứng trước xu hướng xã hội như vậy thì nhà nước phải làm gì???. Một khi chính sách của bất cứ một nhà nước nào, hệ thống nào nếu không nhằm phục vụ và bảo vệ lợi ích của người dân sẽ không được dân ủng hộ, trong những tình huống đó người dân phải cam chịu hoặc tự tìm cách bảo vệ mình bằng các phương pháp đặc biệt thường là ngược lại những mong muốn của nhà nước như ta đã thấy trong hơn 1 tuần qua sau khi tỉ giá giữa VND và DOLLAR Mỹ được ngân hàng định lại giá.
Dưới đây là bài viết của:
▪  ANH QUÂN
18/02/2011 07:36 (GMT+7) Trên http://vneconomy.vn

Buổi gặp mặt giữa ông Benedict Bingham và Câu lạc bộ Giao lưu văn hóa kinh tế quốc tế, ngày 17/2.
Theo vị chuyên gia này, việc kinh tế thế giới tiếp tục được cải thiện sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Hơn nữa, sẽ có ngày càng nhiều vốn được chu chuyển, điều hòa từ các nền kinh tế tiên tiến nhưng trì trệ sang nền kinh tế năng động, hiệu quả. Việt Nam có khả năng tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, thị trường nội địa tiếp tục năng động, số tiền kiều hối gửi về tiếp tục tăng mạnh... 

Tuy nhiên, vấn đề với Việt Nam, theo ông Benedict, là các vấn đề vĩ mô hiện nay có phần đang chịu những sức ép lớn. “Tình hình kinh tế vĩ mô có dấu hiệu không lành mạnh”, ông nói. 

Theo đó, nền tài chính ngày càng dễ thương tổn và mất ổn định hơn, lạm phát gia tăng, tỷ giá ngoại tệ ngày càng không ổn định. Đồng thời, có nhiều quan ngại về sức khỏe của giới kinh doanh, đặc biệt của mảng doanh nghiệp nhà nước, liên quan đến hệ thống ngân hàng là nguồn cung cấp tiền vay cho các doanh nghiệp này. 

Trong khi đó, với các khoản vay trên thị trường quốc tế, Việt Nam phải trả mức lãi suất cao hơn  200-300 điểm cơ bản so với các nước trong khu vực, có nghĩa việc khai thác nguồn vốn từ bên ngoài đối với Việt Nam ngày càng cao giá hơn, đắt đỏ hơn.

Ở trong nước, khu vực doanh nghiệp chỉ có thể vay được vốn thông qua hệ thống ngân hàng với lãi suất từ 17-18%, và ngay cả như vậy thì cũng chỉ được vay thời gian ngắn. thêm vào những khó khăn đó, tỷ giá ngoại hối luôn thay đổi cũng làm tămg thêm khó khăn cho doanh nghiệp đi vay.

Câu hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam lại lâm vào tình hình tài chính dễ tổn thương hơn nhiều các nước khu vực, và Việt Nam có thể làm gì để vượt qua?

Ông Benedict lưu ý rằng, trong 3 năm qua, dù có biện pháp ổn định lại tình hình vĩ mô, nhưng một thực tế là xuất hiện những yếu tố làm cho nền kinh tế vĩ mô ngày càng dễ tổn thương. “Nguyên nhân quan trọng nhất đối với tình hình khó khăn hiện nay không phải là thâm hụt ngoại thương, thâm hụt ngân sách mà trước hết là niềm tin của người dân”, ông nói.

Giải thích cho quan điểm của mình, ông Benedict nhấn mạnh đến một nghịch lý là nếu nhìn vào hệ thống ngân hàng Việt Nam, những chỉ số chính cho thấy nền tài chính Việt Nam tương đối mạnh khỏe: xuất khẩu mạnh, kiều hối liên tục đổ về, nguồn ngoại tệ đổ vào từ các hướng đó thừa để bù đắp thâm hụt thương mại…

Nhưng, vấn đề là người Việt Nam đang chuyển mạnh từ chỗ dự trữ đồng nội tệ sang mua vàng và USD để dự trữ. Họ làm như vậy bởi vì niềm tin của họ đã bị suy giảm đối với khả năng kiểm soát được lạm phát, họ không tin sắp tới có biện pháp để ổn định giá trị đồng tiền, hoặc giảm bớt nợ công…

Đưa ra khuyến nghị, người đứng đầu IMF tại Việt Nam cho rằng, về chính sách tiền tệ Chính phủ phải nỗ lực hơn trong việc kiềm chế và giảm bớt mức lạm phát. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng để thực hiện được yêu cầu này đối với Chính phủ cũng không phải là đơn giản. 

“Các nhà kinh doanh nói với Chính phủ rằng lãi suất cao quá, và họ nói đúng. Thế nhưng muốn giảm lãi suất cho vay trong vòng mấy năm tới thì phải kiềm chế và giảm được lạm phát. Chừng nào nỗi lo về lạm phát vẫn đang còn, lãi suất không thể có khả năng xuống tiếp”.

Nói về nợ công, ông Benedict cho rằng Chính phủ phải làm thế nào để người dân, giới doanh nghiệp tin rằng mối lo về nợ công sẽ được giải quyết. 

“Tất cả mọi người đều biết rằng thâm hụt ngân sách năm 2009-2010 là cao, mọi người đều hiểu lý do nợ công lại cao trong năm 2009 và tôi nghĩ rằng người ta chấp nhận năm 2009 nợ công cao. Thế nhưng người ta chờ đợi nợ công giảm, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu đang qua đi và có phục hồi trở lại”, ông nhấn mạnh. 

Về phía Chính phủ, thách thức là làm thế nào để người dân tin rằng Chính phủ có chiến lược giảm bớt áp lực lên chính sách tài khóa trong 5 năm tới, để giảm dần mức nợ công và thâm hụt ngân sách vốn đã tăng cao thời gian vừa qua.

Vị chuyên gia này cho rằng, nếu Chính phủ xử lý thành công được hai vấn đề trên thì có thể đảo ngược được sự suy giảm niềm tin trong công chúng. Nếu như mối lo của dân chúng về nợ công cũng như lạm phát giảm đi thì sẽ có khả năng để tỷ giá hối đoái bớt dần áp lực và khôi phục giá trị đồng nội tệ. Hoạt động ngân hàng dần từng bước trở lại bình thường trong thời gian tới, ông nói. 

“Tôi nghĩ rằng với Việt Nam, vấn đề không phải là lạm phát mà là nỗi lo về lạm phát mới quan trọng hơn cả”, Benedict kết luận.

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

Giả thuyết mới về vụ Truyền hình Trung Quốc ngụy tạo phóng sự bằng cảnh phim Mỹ

Xin trích giới thiệu bài của tác giả Trần Nghĩa đăng trên RFI 
Hình ảnh của Truyền hình Trung Quốc bị đem ra so sánh với cảnh phim Top Gun
Hình ảnh của Truyền hình Trung Quốc bị đem ra so sánh với cảnh phim Top Gun
Nguồn: Internet   
Cuối tháng Giêng 2011 vừa qua, đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV bị lật tẩy là đã dùng hình ảnh lấy từ một bộ phim Mỹ, nhưng trình bày như là cảnh thật quay được khi làm phóng sự về không quân Trung Quốc. Đó là một cảnh trong Top Gun một bộ phim Mỹ nổi tiếng.      
                                                                                                 

Ngày 8/2 va qua, t Wall Street Journal, mt trong nhng t báo đu tiên phanh phui v vic, đã bước đu tìm ra mt li gii thích : đài CCTV không trc tiếp quay cóp, mà dùng li mt đon phim ca mt phía th ba, và chính phía này mi là th phm ‘’đánh cp phim M’’. Tuy nhiên, theo gii phân tích, k c   khi gi thuyết trên được xác minh là có thc, điu đó vn không xóa b thc tế là CCTV đã ngy to phóng sV tai tiếng này khi s t h tun tháng giêng. Ngày 23/01, đài này đã phát đi mt bài phóng s v hot đng tp hun ca mt phi đi chiến đu cơ J-10 ca không quân Trung Quc, đt căn c ti min Nam. Trong phim có cnh mt chiếc J-10 bn ra mt tên la phá tan mt chiếc máy bay đch. Cnh này vi chiếc phi cơ đch n tung coi rt hoành tráng, như mun cho thy k thut siêu đng ca không quân Trung Quc
Ri thay, cư dân mng Trung Quc ngay sau đó đã ch ra rng cnh chiếc tên la làm n tung máy bay đch li ging y ht cnh trn không chiến cui cùng trong phim Top Gun, hoàn thành t năm 1986, vi nam din viên Tom Cruise th vai chính. Trong đon phim Top Gun, Tom Cruise trên mt chiến đu cơ F-14 đã phóng tên la phá hy mt chiếc F-5.
Mt blogger Trung Quc đã đăng ti song song hình nh t bn tin ca CCTV và t b phim Top Gun cho thy nh trong hai phim khác nhau li hoàn toàn ging nhau. Mt blogger khác ghi nhn là hình thù, hướng bay ca các mnh v, và khói ta ra sau v n ging ht nhau trong hai bn phim. Blogger này đã ma mai : "CCTV là vua quay cóp". Theo ghi nhn ca hãng tin Pháp AFP, sau khi b lt ty, Đài Truyn hình Trung ương Trung Quc đã vi vàng xóa b clip phóng s đó trên trang web ca h, còn chính quyn thì ngăn chn không cho truy cp vào các bài viết và hình nh liên quan đến v vic. CCTV cũng t chi tr li báo chí nước ngoài.
Thái đ im hơi lng tiếng ca đài Truyn hình Trung Quc li càng khng đnh mi nghi ng là chính h đã thc hin trò ‘’đo phim’’. Tuy nhiên hi đu tun này, nht báo M Wall Street Journal, trong mc thông tin v Trung Quc China Real Time Report, đã đưa ra mt gi thuyết khác : CCTV có th là không trc tiếp ly hình nh t phim Top Gun, mà li dùng hình nh trích t phim video qung cáo cho loi chiến đu cơ J-10 mà không quân Trung Quc đang s dng. Du sao, vì CCTV là mt trong nhng phương tin tuyên truyn chính ca Bc Kinh, các nhà phân tích cho rng bài phóng s là mt n lc ca Trung Quc nhm tô đim hình nh, mà c th là lc lượng không quân ca h. Có điu, theo gii quan sát, đ phc v mc tiêu phô trương thanh thế, Bc Kinh không ngn ngi ngy to thc tế, và ln này không phi là ln đu tiên. Mt trong nhng ví d đin hình là lot s kin nhân l khai mc Thế vn hi Bc Kinh vào tháng 8 năm 2008.
Trước hết là cnh bn pháo hoa huy hoàng chung quanh thành ph Bc Kinh nhân đêm khai mc Thế vn hi đã được truyn đi khp thế gii cho hàng triu khán gi chng kiến. Tưởng là cnh thc, thế nhưng, người ta đã phát hin ra là chính quyn Bc Kinh không ngn ngi làm gi nhiu cnh bng hình nh k thut s 3 chiu, lng ghép khéo léo vào cnh tht khiến cho người xem b lm.
Khi b lt ty, các quan chc Trung Quc đã bin bch là vi bu tri Bc Kinh đy sương khói, làm sao có th cho thy màn pháo hoa thành công được. Theo các nhà báo phương tây có mt ti ch vào khi y, ngay c nhng người ngi ti sân vn đng quc gia d l khai mc cũng b la khi xem cnh pháo hoa gi to trên màn hình vĩ đi đt trong sân.
Trò đánh la th hai là cnh cô bé ca sĩ tí hon được vinh d lên hát trong l khai mc. Mi người đu ngây ngt trước ging ca thiên phú này, ng đâu cô bé Lâm Diu Kh ch hát « nhái » trên sân khu, còn người hát tht là mt bé gái khác, tên Dương Bái Nghi, phi trong hu trường vì ngoi hình xu xí. 



Những ngộ nhận về Hiến pháp

Làm rõ những khái niệm, nhìn nhận về hiến pháp như một công cụ bảo vệ quyền lợi con người, như trách nhiệm và công việc của nhà nước trong việc bảo vệ tất cả các quyền lợi của con người trong xã hội, khác với hiến pháp là những gì nhà nước ban phát.
Xin giới thiệu bài viết của Tác giả: TS. NGUYỄN SĨ PHƯƠNG đăng trên:tuanvietnam.vietnamnet.vn

----------------------------------------
Hiến pháp được định nghĩa là luật cơ bản, nền móng xây dựng nên toà nhà nhà nước cùng hệ thống pháp luật của nó, chỉ có thể và buộc phải thay hoặc sửa, một khi sự phát triển của toà nhà đó đòi hỏi.

Lý thuyết dễ thống nhất vậy, nhưng một khi vấn đề thay hoặc sửa hiến pháp được đặt ra trong thực tế, thì giải quyết lại không dễ nếu không căn cứ vào các tiêu chí khoa học Hiến pháp, không lượng hoá được khái niệm "đòi hỏi" bằng trải nghiệm thực tế phong phú quốc gia và thế giới.

Có thể phân tích từ thí điểm mô hình bỏ HĐND huyện, quận, phường, tiến hành từ năm 2009 ở 10 tỉnh, thành, đặt ra đòi hỏi sửa điều khoản Hiến pháp xưa nay quy định cơ cấu chính quyền 4 cấp, trung ương, tỉnh, huyện quận, phường xã; ý kiến phản đối không phải vì nên bỏ hay không, mà đơn giản chỉ do ngộ nhận Hiến pháp là đạo luật rất thiêng liêng, không thể sửa lắt nhắt, làm tầm thường hóa Hiến pháp.

Khái niệm lắt nhắt tầm thường được ý kiến ở ngay cấp lập pháp lượng hoá sai cả thực tế, để bảo vệ ngộ nhận của mình: "sửa vặt, vài ba năm sửa vài điều ít nước làm lắm. 30-40 năm người ta mới sửa một lần" (Pháp luật TPHCM Online 18/04/2009). Thực tế cho đáp số ngược lại.


Giống ta nhất là Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, Quốc hội khoá VII sửa đổi 2 điều vào ngày 12.4.1988, Quốc hội khoá VIII sửa đổi 9 điều ngày 29.3.1993, Quốc hội khoá IX sửa đổi 6 điều ngày 15.3.1999 và 13 điều được sửa đổi vào ngày 14.3.2004. Trong 22 năm sửa đổi 4 lần, bình quân 5-6 năm sửa 1 lần, có điều khoản chỉ sửa 1 câu, thậm chí chỉ mỗi tiêu đề.

Khác ta nhất là Hiến pháp Hoa Kỳ, trong vòng 200 năm từ 1791 tới 1992, sửa tổng cộng 27 lần, nghĩa là 7-8 năm sửa 1 lần. Nước Đức có thể coi là điển hình của sửa Hiến pháp „lắt nhắt". Trong vòng 40 năm, từ 1951 đến 1990 sửa tới 38 lần, bình quân mỗi năm gần 1 lần, gồm 14 lần sửa 1 điều, 8 lần sửa 1 điểm, 4 lần sửa 1 câu, số lần còn lại sửa cả đoạn. Tính khoảng cách thời gian, có tới 9 năm, mỗi năm sửa 2 lần. Nhặt nhất, có 1 năm sửa tới 3 lần. Thực tế trên cho thấy, thời gian sửa nhặt hay thưa, mức độ nhiều hay ít không phải là dấu hiệu đánh giá chất lượng hiến pháp thiêng liêng hay không, vĩ đại hay tầm thường, nó chỉ phản ảnh những nhu cầu thay đổi chính trị đã được hiến pháp thoả mãn. Bởi Hiến pháp là công cụ chứ không phải mục đích !

"Thiêng liêng" thuộc phạm trù tư tưởng, tinh thần, lý tưởng, thể hiện mong muốn bất di bất dịch không được đụng đến bất chấp cả những thực tế ngược lại phũ phàng phải chịu đựng, được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực tâm linh, tôn giáo, trong khi luật pháp chỉ điều chỉnh các mối quan hệ bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự, đong đo đếm được, không dùng để áp dụng cho tinh thần, tín ngưỡng nằm trong đầu, hay trong tâm.

Nếu coi "tư tưởng một khi đã thấm sâu vào quần chúng cũng tạo nên sức mạnh như lực lượng vật chất (Các Mác)", thì ngộ nhận tư tưởng trên là cản trở lớn nhất đối với đòi hỏi hoàn thiện nền tảng hiến pháp luôn mâu thuẫn với xã hội phát triển không ngừng, không riêng ở ta mà với bất cứ quốc gia nào.

Hệ lụy vô cùng nặng nề, nếu có sửa hiến pháp, thì với ngộ nhận đó cũng sẽ sử dụng những quy định chung chung mang tính tư tưởng tinh thần như kinh thánh, chứ không phải những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sử, vốn là đặc trưng bắt buộc của 1 văn bản pháp luật, với động cơ tránh cho ngôn từ hiến pháp không còn mâu thuẫn với thực tế luôn vận động muôn mầu muôn vẻ; hoặc coi hiến pháp chỉ như tuyên ngôn không còn được sử dụng làm căn cứ thước đo để đánh giá các văn bản lập pháp đúng hay sai - vốn là nền tảng của nhà nước pháp quyền phân biệt với nhà nước quân chủ; thậm chí thí nghiệm cả với hiến pháp như trường hợp bỏ hội đồng huyện quận phường, trong khi nó vẫn còn hiệu lực hiến định đúng nguyên lý nhà nước pháp quyền: bất cứ cấp chính quyền nào cũng gồm lập pháp hành pháp và tư pháp - điều không quốc gia hiện đại nào dám thử nghiệm vi phạm - chỉ có thể chọn lựa chính quyền mấy cấp, chứ không thể bỏ một nhánh trong cấp đó. Trong cả 3 trường hợp, hiến pháp sẽ ngày càng tụt hậu so với vận động của thực tế, mất uy lực, nhà nước cùng hệ thống pháp luật xây dựng trên nó khó tránh khỏi nguy cơ nội tại bị chông chênh.

Hệ lụy khác trực tiếp tác động đến cơ quan lập pháp, thay vì tạo ra một quy trình sửa đổi hiến pháp kịp thời, đơn giản, hiệu qủa, thì kéo dài nó khó biết hồi kết, với lý do cẩn trọng thiêng thiêng, mà chủ trương chuyển đổi ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ, hay tổ chức lại hệ thống toà án theo mô hình các nước hiện đại ở ta đã được nhất trí ở cấp cao nhất, tới nay cũng chỉ dừng lại ở công đoạn bàn thảo, là một dẫn chứng.

Hiến pháp quốc gia nào cũng có ít nhất 2 phần, phần quyền công dân và cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Tuy nhiên cách trình bày cả cấu trúc lẫn nội dung, hiến pháp nước ta tương tự hiến pháp Liên Xô 174 điều, ban hành năm 1977, khác với hầu hết các nước hiện nay.

Nếu coi hiến pháp phản ảnh thể chế chính trị, thì sự khác và giống nhau đó là tất yếu trong giai đoạn lịch sử thế giới phân chia 2 phe đã qua. Nhưng hiện nay, loài người đang trong thời đại hội nhập nghĩa là phải cùng thừa nhận những giá trị phổ quát, dù thể chế chính trị khác nhau như thế nào, bằng không sẽ bị gạt ra ngoài. Một trong những giá trị đó là quyền công dân.

Hiến pháp ta trong hầu hết các điều khoản đề cập đều mở đầu: "Công dân có quyền...", và tại điều 51 còn quy định: "Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định". Cách trình bày đó dễ dẫn tới ngộ nhận quyền công dân do nhà nước cho mà có, mâu thuẫn với nguyên lý dân chủ: "mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá (chứ không phải nhà nước) cho họ những quyền không ai có thể chối cãi" (Tuyên ngôn độc lập). Ngộ nhận trên đồng nghĩa ngộ nhận coi hiến pháp là công cụ của nhà nước sinh ra để cai trị dân, tức nhà nước giữ quyền lập hiến - vốn đặc trưng của nhà nước quân chủ, chứ không phải như trong nhà nước dân chủ, hiến pháp là công cụ của dân, đưa ra những thước đo, chuẩn mực, quy tắc ứng xử, giới hạn pháp lý nhà nước được phép làm, hoặc phải làm, theo đúng những đòi hỏi của chủ nhân nó là người dân, tức nhân dân lập hiến hay người dân có quyền phúc quyết hiến pháp; điển hình như Hiến pháp EU, từng nước thành viên buộc phải tổ chức dân phúc quyết. Chính vì sinh ra để bảo đảm quyền, lợi ích của dân, nên hầu hết hiến pháp các nước hiện đại đều bắt đầu bằng chương mục: quyền cơ bản công dân. Sau đó mới đến các chương mục về bộ máy nhà nước để bảo đảm quyền đó.

Có thể dẫn liệu Hiến pháp Đức, điều khoản đầu tiên được bắt đầu bằng câu: „Nhân phẩm là quyền bất khả xâm phạm (khác với câu: công dân có quyền về nhân phẩm). Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm của mọi quyền lực nhà nước". Tinh thần đó có thể tìm thấy cả ở Trung Quốc, khi ngày 14.3.2004, lần đầu tiên trong lịch sử, hiến pháp họ bổ sung: "Tài sản tư hữu hợp pháp là quyền bất khả xâm phạm. Nhà nước phải chú ý và bảo vệ quyền con người". Trong điều 1 Hiến pháp Đức còn đưa ra ràng buộc đối với nhà nước: "Các quyền cơ bản khác nêu tại các điều tiếp theo là quyền trực tiếp buộc cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải chấp hành", nhằm nhấn mạnh quyền một khi được hiến định, thì đương nhiên được thực hiện trực tiếp, nhà nước buộc phải phục tùng, khác hẳn với ngộ nhận rằng: hiến pháp chỉ đưa ra điều khoản chung chung, không có giá trị áp dụng nếu thiếu văn bản lập pháp cụ thể hoá nó.

Ảnh: TTXVN
Quyền công dân trực tiếp buộc nhà nước phải chấp hành, liên quan tới nguyên lý cơ bản của nhà nước pháp quyền: người dân được quyền làm tất cả trừ những gì luật pháp cấm, ngược lại nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép.

Chẳng hạn, hiến pháp hầu hết các nước đều khẳng định: biểu tình là quyền cơ bản của người dân. Nghĩa là người dân hoàn toàn có quyền xuống đường tập hợp nhau ủng hộ hay chống một chủ trương chính sách nào đó của nhà nước, bất cứ đâu, lúc nào, không cần báo trước. Nhưng trên thực tế quyền đó bị giới hạn, chỉ bởi Luật biểu tình dựa trên điều khoản an ninh của Hiến pháp đưa ra điều cấm: không được biểu tình khi thiết quân luật, biểu tình phải đăng ký trước để nhà nước bảo vệ, phải có người tổ chức kẻo gây bạo động... Không có luật này, người dân có quyền biểu tình vô giới hạn, bất chấp tất cả. Như vậy, quyền hiến định về biểu tình hoàn toàn được công dân tự động thực hiện; nó chỉ bị giới hạn khi và chỉ khi có văn bản lập pháp đưa ra quy định (tất nhiên không mâu thuẫn với hiến pháp), chứ hoàn toàn không như ngộ nhận phổ biến ở ta cho rằng chỉ được phép biểu tình khi có luật biểu tình, mà không đặt ra câu hỏi, vậy chẳng nhẽ quyền hiến định tự do đi lại, chỉ được phép thực hiện khi có luật đi lại tự do, còn không thì cứ phải ngồi nhà chờ văn bản?

Không chỉ điều khoản Hiến pháp ta về quyền biểu tình bị ngộ nhận như vậy, mà nhiều quyền khác như quyền được thông tin, quyền lập hội... cũng ngộ nhận tương tự, trông chờ vào các văn bản lập pháp hướng dẫn ?!, thậm chí đến lượt văn bản lập pháp muốn thực hiện cũng phải trông chờ văn bản lập quy, rốt cuộc lẽ ra luật pháp quyết định quan chức hành xử thì ngộ nhận trên dẫn tới nghịch lý: quan chức hành xử quyết định luật pháp; chí có thể khắc phục bằng cách nhấn mạnh trong hiến pháp: quyền cơ bản của công dân là quyền trực tiếp, và chỉ khi đó mới thúc đẩy và buộc được cơ quan lập pháp phải ban hành luật tương ứng kịp thời, để khắc phục những hệ quả không mong muốn xảy ra kèm theo, nếu không họ phải chịu trách nhiệm trước quốc dân.

Nói đến luật pháp là nói đến chế tài bởi quyền lực công, vì vậy nội hàm khái niệm luật pháp luôn chứa đựng toà án trong đó, được toà án bảo vệ, thiếu nó khái niệm pháp luật không còn đúng nghĩa, trên thực tế sẽ vô giá trị. Vì vậy, sự hiện hữu và tính độc lập của toà án là cốt tử bảo đảm tính tối thượng của hiến pháp và pháp luật. Trên nghĩa đó, thành lập toà án hiến pháp độc lập ở ta là một đòi hỏi bức bách, và cũng chỉ khi đó, mọi tranh cãi và sửa đổi hiến pháp mới thực sự có ý nghĩa.

Hiện ở ta, mối quan hệ giữa 3 cơ quan lập pháp hành pháp và tư pháp được bàn cãi nhiều về học thuật, theo lý thuyết tam quyền phân lập hay coi đó là một thể thống nhất có phân công phân nhiệm. Dù theo quan điểm nào thì câu hỏi thực tế vẫn phải trả lời là toà án khi thụ lý và ra phán quyết có phải xin ý kiến chỉ đạo của ai hay cấp nào không? Nếu có, thì pháp luật không còn là tối thượng mà người và cấp chỉ đạo mới là tối thượng ! không thể biện hộ bằng bất cứ quan điểm gì.

Quốc gia nào chẳng muốn Hiến pháp nước mình như huân chương đeo trước ngực lấp lánh thế giới, mang đẳng cấp tín nhiệm như thương hiệu của những hãng nổi tiếng toàn cầu, mãi mãi là nơi công dân đặt niềm tin công lý; nhưng chỉ có thể kỳ vọng, một khi nguyên tắc bất di bất dịch "nhà nước thượng tôn hiến pháp" luôn được thoả mãn!